Nợ công: Mình làm khó ta

Đưa nợ công về giới hạn an toàn không phải là vấn đề “một sớm một chiều”, nhưng cũng không phải “để đến chiều tính”…

Theo đánh giá của Chính phủ, nợ công đang ở mức cao, áp lực trả nợ lớn. Đến cuối năm 2015, nợ công bằng 62,2% GDP nhưng đó có thể chưa phải là mức cao cuối cùng, trường hợp tăng trưởng GDP năm 2016 không đạt mục tiêu đề ra thì tỷ lệ trên có thể còn cao hơn.

Trong khi đó, chi trả nợ giai đoạn 2011-2015 gấp 1,86 lần giai đoạn 2006-2010. Riêng năm 2015, nghĩa vụ chi trả nợ lãi đã bằng khoảng 8,4% tổng thu ngân sách, nếu tính cả trả nợ gốc thì trên 26%. Dự báo chi trả nợ sẽ tiếp tục tăng cao hơn trong các năm 2016, 2017 và 2018…

No cong Minh lam kho ta
5 năm qua thu ngân sách tăng được 2 lần thì chi tăng 2,1 lần và bội chi tăng 2,48 lần

TS. Nguyễn Xuân Thành và Đỗ Thiên Anh Tuấn (Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright) có chung tính toán rằng với thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam xấp xỉ 2.110 USD, nhưng mỗi người dân Việt Nam đã phải gánh hơn 1.300 USD nợ công, tương đương 62,2%. Tuy nhiên vấn đề không chỉ nằm ở con số tỷ lệ nói trên.

Việt Nam vẫn có thể xoay xở được để trả nợ công, nếu như tình hình khó khăn ngân sách không đến mức như hiện nay, bội chi ngân sách luôn ở mức cao. Đến mức mà Chính phủ đã buộc phải tiếp tục vay mới để trả nợ cũ.

Ông Thành bổ sung, tình trạng nợ công tăng cao của Việt Nam không chỉ do Chính phủ vay nợ để bù đắp bội chi mà còn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư ngoài ngân sách. Điều này khiến cho bức tranh tài khóa trở nên kém minh bạch, khó kiểm soát tình trạng nợ công hơn. Nếu hợp nhất các khoản đầu tư ngoài ngân sách này vào trong ngân sách thì mức độ bội chi ngân sách chắc chắn không chỉ dừng lại ở con số bình quân 5% như báo cáo hàng năm.

“10 năm liền bội chi trên 5% GDP, tức là bội chi cao và kéo dài. Nhưng lỗi do ta hết, ta đã thả gà ra rồi đuổi”, ông Nguyễn Công Nghiệp, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính chia sẻ thêm. Chuyện “thả gà ra đuổi” được ông phân tích nguyên nhân sâu xa hơn là do chương trình chính sách chi thường xuyên quá nhiều, nhiều đến mức “chủ tịch xã không nhớ nổi là bao nhiêu”. Đầu tư cũng dàn trải ra hàng trăm nghìn dự án để mỗi dự án được vài tỷ đồng/năm, thế nên luôn luôn thiếu tiền.

“Nguồn lực không có, dàn trải thế lấy đâu tiền cho đủ? Thiếu tiền thì lại phát hành trái phiếu và nợ công tăng lên. 5 năm qua thu ngân sách tăng được 2 lần thì chi tăng 2,1 lần và bội chi tăng 2,48 lần. Càng ngày ta càng phải đuổi theo nhu cầu chi mà ta tự đưa ra, ta đang tự mình làm cho mình khó khăn thêm”, ông Nghiệp nói.

Nợ công cao đã đành, nhưng phần lớn nợ hiện nay là vay trong nước với thời hạn ngắn, lãi suất khoảng chừng 7%/năm. Đã vậy, tiền này lại đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hợp lý trong khi vẫn phải trả lãi cao. Kết cục là 3-4 năm nay chúng ta đã phải vay để đảo nợ. “Giới hạn nợ công chỉ là tương đối, khả năng trả nợ mới là vấn đề”, ông Nghiệp khuyến cáo.

Câu hỏi đặt ra là bao giờ người Việt Nam mới được hưởng thành quả của tăng trưởng và có được một cuộc sống không có nợ nần? Theo các chuyên gia Fulbright, những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến nợ công trong tương lai đó là mức tăng trưởng kinh tế hàng năm mà Việt Nam có thể đạt được, lạm phát, tỷ giá và đặc biệt là mức bội chi ngân sách…

Dựa trên một số giả định tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn tới là 6,5%/năm, lạm phát 5%/năm… TS. Nguyễn Xuân Thành và Đỗ Thiên Anh Tuấn đã đưa ra một số kịch bản về tỷ lệ nợ công ở năm 2020 so với GDP, cho thấy Việt Nam rất khó để có thể đưa nợ công về dưới 65% GDP.

Kịch bản “căng thẳng” nhất là khi bội chi ngân sách vẫn duy trì ở mức 5% GDP/năm, nợ công sẽ đạt mức xấp xỉ 73% GDP. Ở các kịch bản kém bi quan hơn, nếu thâm hụt ngân sách xuống bình quân 4% GDP/năm thì nợ công xấp xỉ 70% GDP; nếu thâm hụt ngân sách chỉ là 3% GDP/năm thì nợ công là 66% GDP. Trong trường hợp Việt Nam đạt được mục tiêu về thâm hụt ngân sách đề ra trong Chiến lược tài chính và Chiến lược quản lý nợ công thì quy mô nợ công vẫn đạt xấp xỉ 69% GDP vào năm 2020.

Cũng theo các chuyên gia trên, để đảm bảo nợ công không vượt 65% GDP vào năm 2020 thì đòi hỏi Chính phủ phải có một nỗ lực vượt bậc. Một trong những kịch bản để đạt được mục tiêu này là Việt Nam phải đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế lên đến 7%/năm kéo dài cho đến năm 2020, trong điều kiện duy trì được thâm hụt ngân sách 3% GDP/năm và lạm phát 5%/năm…

Để kiểm soát nợ công hiệu quả, phải giảm bội chi, siết kỷ luật ngân sách, ông Nghiệp nói. Còn ông Thành, ông Tuấn khuyến nghị: Chính phủ phải nỗ lực cắt giảm bội chi ngân sách xuống mức bình quân 3% GDP/năm, kết hợp với nỗ lực cải thiện kết quả tăng trưởng kinh tế và duy trì ổn định vĩ mô; nỗ lực đạt thặng dư ngân sách cơ bản; quản lý chặt bội chi ngân sách địa phương; xóa bỏ tâm lý ỷ lại và tình trạng “vung tay quá trán” trong chi tiêu ngân sách…

“Đưa nợ công về giới hạn an toàn không phải là vấn đề một sớm một chiều, nhưng cũng không phải là chuyện để đến chiều tính”, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn nói.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *